Vài nét về chức vụ Tri huyện thời Nguyễn ở Bắc Ninh

21/06/2019 09:50 Số lượt xem: 174

Tri huyện là một chức danh chỉ người đứng đầu một huyện của thời Nguyễn. Thông thường mỗi huyện có một vị Tri huyện, nhưng cũng có thời kỳ, một vị Tri huyện kiêm nhiếp hai huyện. Đó là trường hợp vào năm Tự Đức thứ 5 (1852), Tri huyện Võ Giàng kiêm nhiếp cả huyện Quế Dương, Tri huyện Gia Bình kiêm nhiếp cả huyện Lương Tài,...

Chức vụ Tri huyện ở thời Nguyễn do đích thân Hoàng đế ký bổ nhiệm sau khi có sự tiến cử của Tổng đốc của tỉnh đó và Thượng thư bộ Lại. Để được bổ nhiệm vào chức vụ Tri huyện, đương sự phải có bằng Cử nhân. Đến khi người Pháp đặt chế độ Bảo hộ lên đất nước ta, người có bằng Cử nhân muốn được đề cử vào chức Tri huyện, bắt buộc phải tốt nghiệp trường Hậu bổ (đặt tại Hà Nội) hoặc trường Hành chính thuộc địa (đặt tại Paris) của nhà nước Pháp. Chương trình học ở trường Hậu bổ và trường Hành chính thuộc địa của Pháp là 3 năm. Do được đào tạo liên tục, có vị Tri huyện thời đó chỉ khoảng 25, 26 tuổi, nhưng tỏ ra rất chững chạc và làm việc rất hiệu quả.

Tri huyện thời Nguyễn ở cùng đồng bằng Bắc bộ nói chung và ở Bắc Ninh nói riêng thời Nguyễn có chức năng nhiệm vụ sau:

Chịu trách nhiệm trước Tổng đốc, trước triều đình Huế và nhà nước Bảo hộ Pháp (sau khi người Pháp đặt chế độ bảo hộ ở ta) về mọi mặt: trật tự an ninh, chính trị, xã hội, binh lương, thuế khóa, phong hóa, giáo dục trên địa hạt do mình phụ trách; trực tiếp giải quyết các vụ kiện cáo mà các làng trình lên (bao gồm các vụ kiện về việc chức dịch các làng hà lạm ruộng đất, hà lạm công quĩ, công sản của làng, các vụ án mạng, đánh cãi chửi nhau, "bất hiếu, bất mục", "tiền dâm hậu thú", bất kính bậc tôn trưởng,...); tróc nã tội nhân lẩn trốn, bắt cướp, bắt rượu lậu, lùng bắt các các vị đạo trưởng Gia tô ( từ thời Minh Mệnh đền thời Tự Đức); trực tiếp đôn đốc việc phu phen, tạp dịch, phê chuẩn kết quả bầu chức danh Lý trưởng và quyết định cách chức Lý trưởng của các làng, đôn đốc và khám xét đê điều; làm chủ tế cuộc tế các vị tiên thánh tiên hiền của đạo Nho và của huyện mình tại văn chỉ hàng huyện; ký các văn bản do Đề lại, Lục sự trình, trực tiếp tha những nghi phạm do lính cơ bắt về nhưng không đủ chứng cớ phạm tội, trực tiếp thảo và ký các tờ trình Tổng đốc về những vụ việc trật tự an ninh tại hạt mình,...

Mặc dù phải trực tiếp đảm nhận nhiều công việc như thế, nhưng bộ máy giúp việc cho Tri huyện thời Nguyễn ở ta rất gọn nhẹ. Cụ thể: mỗi huyện (nếu là huyện lớn) có một vị Huyện thừa (giống như cấp phó của Tri huyện), một vị Thư lại (thời Lê gọi là Đề lại) để giúp việc về soạn thảo công văn gửi cấp xã, một vị Lục sự giúp việc quản lý hồ sơ các vụ án, một vị Thông phán giúp việc về việc giải quyết các vụ án, một tiểu đội lính cơ (khoảng 12 người) làm nhiệm vụ đi bắt rượu lậu, giặc cướp, trộm, tội phạm bỏ trốn; một tiểu đội lính lệ (cũng khoảng 12 người) có nhiệm vụ tháp tùng Tri huyện trong các cuộc đi kiểm tra, đi thăm các xã trong huyện. (Cũng có nhiều trường hợp bà Huyện- tức là phu nhân của Tri huyện- đi ra khỏi nơi cư trú cũng sai lính lệ đi theo, nhưng đây không phải là quy định của triều đình). Hai đơn vị này do một vị Cai hợp, một vị Thủ hợp chỉ huy. Quản lý về giáo dục thời Nguyễn ở mỗi huyện có một vị Huấn đạo. Viên Huấn đạo cũng phải có bằng Cử nhân Hán học. Vị này khi đương chức không được mở trường dạy học tư mà chỉ làm công tác giám sát, kiểm tra các trường tư thực hiện việc dạy học như thé nào và hàng năm chủ trì các kỳ khảo hạch các học trò trong huyện để chọn sĩ tử đủ điều kiện dự kỳ thi Hương do bộ Lễ tổ chức.

Hầu hết những công việc trên đây đều do Tri huyện trực tiếp làm. Nếu so với ngày nay, một vị Tri huyện thời Nguyễn phải thực nhiệm nhiệm vụ của: Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện, Chánh án, Viện trưởng Viện Kiểm sát, Trưởng Công an huyện, Chỉ huy trưởng Quân sự huyện, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy, Trưởng phòng Nội vụ huyện, Trưởng phòng Văn hóa huyện,... Trong khi đó, vào thời Minh Mệnh (1820- 1840), lương tháng của một vị Tri huyện chỉ tương đương với lương của một nhân viên tạp vụ của các cơ quan hành chính của nhà nước XHCN ta (33 đồng/ tháng vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX).

Như vậy, biên chế công chức (kể cả lực lượng lính cơ và lính lệ) của một huyện thời Nguyễn ở ta chỉ khoảng 30 người thôi (huyện nhỏ thì không có chức Huyện thừa nên chỉ còn 29 người).

Nguyễn Quang Khải

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 4213

Đã truy cập : 43447369