Ngày 16/4/2020 Sở Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 585/KH-Ttra về phản ánh vướng mắc, hạn chế của hệ thống pháp luật pháp liên quan trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) (phần 3)

21/05/2020 09:28 Số lượt xem: 160

1. Chưa thống nhất giữa Luật Đầu tư, Luật Nhà ở và Nghị định 63/2018/NĐ-CP:

Dự án đối ứng hoàn trả vốn đầu tư xây dựng dự án BT chủ yếu là các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị và được thực hiện theo quy định của Luật đầu tư; Theo đó, phải thực hiện cấp Quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tại Điều 30, Điều 31, Điều 32 Luật đầu tư. Tuy nhiên, theo Khoản 4, Điều 33 Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về trình tự thực hiện dự án BT quy định: “Nhà đầu tư dự án BT không phải thực hiện trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư và ký quỹ theo pháp luật về đầu tư để thực hiện Dự án khác”. Mặt khác, theo quy định tại Khoản 2, Điều 170 Luật Nhà ở thì “… Đối với dự án không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư theo Luật đầu tư thì phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ”.

Do đó, trình tự thực hiện dự án đối ứng hoàn trả vốn đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng BT chưa rõ ràng? Có phải thực hiện thủ tục chấp thuận đầu tư theo quy định của Luật Nhà ở hay không?

2. Chưa có sự thống nhất giữa Luật bảo vệ Môi trường và Luật Đầu tư:

Theo quy định tại điểm a, Khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ Môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án. Nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục xin phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước khi thực hiện thủ tục xin quyết định chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 33 của Luật Đầu tư không yêu cầu nhà đầu tư phải nộp quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

3. Chưa thống nhất giữa Luật Xây dựng và quy định về PPP:

Về quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong dự án PPP có cấu phần xây dựng:  Luật Xây dựng (Khoản 9 và Khoản 27 Điều 3) quy định các khái niệm chủ đầu tư (đối với dự án PPP là doanh nghiệp dự án) và người quyết định đầu tư (cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng). Theo đó, Điều 68, Điều 72 Luật Xây dựng có quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư và người quyết định đầu tư. Tuy nhiên, Luật Xây dựng chưa quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng PPP.

         4. Chưa thống nhất về thủ tục xin phép chuyển nhượng dự án bất động sản giữa Luật Đầu tư và Luật Kinh doanh bất động sản:

Theo quy định tại Điều 51 Luật Kinh doanh bất động sản thì nhà đầu tư phải xin Quyết định cho phép chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của UBND cấp tỉnh đối với thủ tục chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản. Tuy nhiên, theo Điều 45 Luật Đầu tư, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng đủ điều kiện. Khi thay đổi nhà đầu tư, nhà đầu tư phải điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh.

5. Chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/2019/NĐ-CP:

Do chưa có Thông tư hướng dẫn, các địa phương gặp khó khăn trong quá trình áp dụng chuyển tiếp, Đặc biệt là các trường hợp chuyển tiếp theo Điều 17 và trường hợp thanh toán tương ứng với khối lượng hoàn thành dự án BT Khoản 6, Điều 3 của Nghị định 69/2019/NĐ-CP…

6. Chưa thống nhất giữa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công với Luật Đất đai, Luật Đầu tư và Nghị định 63/2018/NĐ-CP:

Hiện nay, một số quy định chưa được đồng bộ giữa pháp luật hiện hành về quản lý sử dụng tài sản công, đất đai, đầu tư, đầu tư theo theo hình thức đối tác công tư. Cụ thể chưa có quy định thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất trong quá trình triển khai dự án đầu tư. Trong khi đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên được cấp có thẩm quyền cho phép trước khi thực hiện dự án đầu tư. Đồng thời, các pháp luật nêu trên cũng không có quy định cụ thể về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện và thanh toán cho dự án BT. Sự chưa đồng bộ pháp luật này có thể dẫn đến tình huống khiếu kiện pháp lý phức tạp khi không bố trí được quỹ đất để thanh toán cho nhà đầu tư theo hợp đồng đã ký kết nếu không được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất./.

TTr Sở

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 4699

Đã truy cập : 43712357