Ngày 16/4/2020 Sở Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 585/KH-Ttra về phản ánh vướng mắc, hạn chế của hệ thống pháp trong đất đai, tài nguyên môi trường, xây dựng kinh doanh bất động sản (Phần 2).

21/05/2020 09:29 Số lượt xem: 70

* Việc lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu giá đất, đầu thầu dự án có gắn liền với quyền sử dụng đất, quyết định chủ trương đầu tư quy định tại các Luật không thống nhất:

Tại Luật Đầu tư quy định các trường hợp quyết định chủ trương đầu tư.

Tại Luật Đất đai quy định các trường hợp phải áp dụng hoặc không áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất.

Tại Luật Đấu thầu quy định các trường hợp phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư

Các quy định này chưa quy định rõ loại đất nào (đất đã giải phóng mặt bằng hay chưa; đất giao, thuê hay nhận chuyển nhượng;...), các loại dự án nào (lựa chọn nhà đầu tư hay chỉ định nhà đầu tư) phải đấu giá, đấu thầu và quyết định chủ trương đầu tư cho nên các địa phương lúng túng trong việc áp dụng các quy định pháp luật đối với dự án đầu tư có sử dụng đất.

Dẫn đến tình trạng không thực hiện đấu giá, đấu thầu dự án đầu tư có gắn liền với quyền sử dụng đất mà thay vào đó là thực hiện thông qua cơ chế cấp chủ trương đầu tư;

*Chồng chéo thủ tục xin phép chuyển nhượng dự án bất động sản giữa Luật Đầu tư và Luật Kinh doanh Bất động sản.

Tại Điều 51 Luật Kinh doanh Bất động sản quy định về thủ tục chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản, theo đó nhà đầu tư phải xin Quyết định cho phép chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của UBND cấp tỉnh.

Theo quy định tại Điều 45 Luật Đầu tư, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án cho nhà đầu tư khác khi đáp ứng đủ điều kiện. Điều 37, Khoản 3 Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về thủ tục thay đổi nhà đầu tư đối với dự án đầu tư hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh. Theo đó khi thay đổi nhà đầu tư, nhà đầu tư phải điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư theo thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh.

Nhà đầu tư phải thực hiện lặp lại các thủ tục, gây tốn kém về chi phí, thời gian.

*Chưa thống nhất về việc chấm dứt dự án đầu tư và thu hồi đất của dự án đầu tư trong quy định của  Luật Đầu tư và Luật Đất đai.

Tại Điểm g, Khoản 1, Điều 48 Luật Đầu tư quy định dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động trong trường hợp: sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án. Dự án chấm dứt đồng nghĩa với việc nhà đầu tư sẽ bị thu hồi đất.

Tại Điểm i, Khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai quy định các trường hợp thu hồi đất: Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trong trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Như vậy, giữa 2 Luật chưa thống nhất trong quy định về việc chấm dứt dự án và thu hồi đất. Thực tế, nhiều dự án đã ban hành quyết định chấm dứt hoạt động do vi phạm thời hạn triển khai dự án theo quy định của Luật Đầu tư nhưng không thể thu hồi đất vì vướng quy định của Luật Đất đai cho phép nhà đầu tư gia hạn thời gian sử dụng đất thêm 24 tháng./.

 

TTr Sở

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 4680

Đã truy cập : 43712519