Nghiên cứu, trao đổi

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

10/06/2026 11:15

Tóm tắt: Các khu công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh của các khu công nghiệp cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước về lao động nhằm bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động trong thời gian tới.

Từ khóa: Khu công nghiệp; lao động; quản lý nhà nước; phát triển nguồn nhân lực.

Abstract: Industrial parks play a vital role in economic development, investment attraction, and job creation for workers. However, the rapid expansion of industrial parks has also generated new demands for state labor management to ensure harmonious and stable labor relations and to safeguard the lawful rights and interests of all parties involved. This article clarifies the theoretical foundations, analyzes the current state of labor management in industrial parks in Vietnam, identifies key achievements, limitations, and underlying causes, and proposes solutions to enhance the effectiveness of state labor management in the coming period.

Keywords: Industrial parks; labor; state management; human resource development.


 

1. Đặt vấn đề

Các khu công nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo việc làm cho hàng triệu người lao động. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, hệ thống khu công nghiệp ở Việt Nam không ngừng mở rộng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước về lao động như thiếu hụt lao động có kỹ năng, tranh chấp lao động, vi phạm pháp luật lao động, bảo đảm an sinh xã hội và thích ứng với chuyển đổi số. Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa và góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

2. Quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp

Quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp là hoạt động có tổ chức của Nhà nước thông qua hệ thống cơ quan quản lý, bằng pháp luật, chính sách và các công cụ quản lý nhằm điều chỉnh các quan hệ lao động phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động này hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động, duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định, góp phần nâng cao năng suất lao động, thu hút đầu tư và bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Đối tượng quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp bao gồm toàn bộ các quan hệ phát sinh trong quá trình tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, trả lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, đối thoại, thương lượng và giải quyết tranh chấp lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động. Chủ thể thực hiện quản lý là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có các cơ quan chuyên trách về lao động, bảo hiểm xã hội, chính quyền địa phương và ban quản lý các khu công nghiệp theo thẩm quyền được giao.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp không chỉ dừng lại ở việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật lao động mà còn phải thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển thị trường lao động. Nhà nước có vai trò xây dựng thể chế, hoạch định chính sách việc làm, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật lao động, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và người lao động phát huy năng lực, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Nội dung quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp bao gồm xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về lao động; quản lý việc làm, tiền lương, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động; giải quyết tranh chấp lao động; phát triển nguồn nhân lực; quản lý lao động nước ngoài; tổ chức thu thập, cập nhật và khai thác dữ liệu thị trường lao động; đồng thời triển khai các chính sách bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

Hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp chịu tác động của nhiều yếu tố như chất lượng hệ thống pháp luật, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, mức độ phát triển của thị trường lao động, khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và người lao động. Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch, hiệu quả, lấy người lao động làm trung tâm, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.

3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động hiện đại, đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả và hội nhập là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Quán triệt tinh thần đó, công tác quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp đã được các cấp, các ngành quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Trong những năm qua, các khu công nghiệp ở Việt Nam không ngừng phát triển cả về số lượng, quy mô và năng lực sản xuất, trở thành khu vực thu hút đầu tư và sử dụng lao động lớn của nền kinh tế. Sự phát triển của các khu công nghiệp đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế ở nhiều địa phương. Trước yêu cầu phát triển mới, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động theo hướng đồng bộ, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Bộ luật Lao động năm 2019 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý và điều chỉnh các quan hệ lao động. Các chính sách về việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động và phát triển nguồn nhân lực tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động được chú trọng, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cả người lao động và người sử dụng lao động trong các khu công nghiệp.

Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật lao động ngày càng được tăng cường. Các cơ quan chức năng thường xuyên tổ chức thanh tra chuyên ngành về lao động, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm như ký kết hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội và an toàn, vệ sinh lao động. Hoạt động đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và giải quyết tranh chấp lao động từng bước được đẩy mạnh, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ. Nhiều địa phương đã triển khai các chương trình hỗ trợ nhà ở xã hội, đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân lao động, qua đó góp phần cải thiện điều kiện sống và làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Trước hết, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, kỹ năng nghề nghiệp tốt và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại. Tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao, công nghệ số và sản xuất thông minh, vẫn diễn ra ở nhiều địa phương.

Việc chấp hành pháp luật lao động ở một số doanh nghiệp chưa nghiêm. Tình trạng vi phạm các quy định về hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động và nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội vẫn còn xảy ra. Một số doanh nghiệp chậm đóng hoặc nợ đóng bảo hiểm xã hội kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Mặc dù số vụ tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể có xu hướng giảm, song nguy cơ phát sinh vẫn hiện hữu tại những địa bàn tập trung đông doanh nghiệp và lao động nhập cư.

Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận công nhân lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tại nhiều khu công nghiệp, nhu cầu về nhà ở, trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa và các dịch vụ xã hội cơ bản chưa được đáp ứng đầy đủ. Phần lớn người lao động nhập cư phải thuê nhà trọ với điều kiện sinh hoạt còn hạn chế, trong khi thu nhập chưa thực sự tương xứng với chi phí sinh hoạt ngày càng tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động mà còn tác động đến khả năng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và thị trường lao động.

Một hạn chế khác là sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn ở một số nơi chưa thực sự chặt chẽ. Công tác dự báo nhu cầu nhân lực, kết nối cung - cầu lao động và quản lý thông tin thị trường lao động còn nhiều bất cập. Việc xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu lao động chưa đồng bộ, thiếu tính liên thông giữa các cơ quan quản lý, làm giảm hiệu quả quản lý và khả năng hoạch định chính sách.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng; những biến động của kinh tế thế giới; tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều áp lực đối với công tác quản lý lao động. Về chủ quan, một số chính sách và quy định pháp luật còn chậm được sửa đổi, bổ sung; việc tổ chức thực hiện ở một số địa phương chưa thật sự hiệu quả; năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý lao động còn chưa đồng đều; việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước về lao động chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định thị trường lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, việc tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng thị trường lao động hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo đảm phát triển bền vững.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Một là, quán triệt và cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế thị trường lao động.

Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động hiện đại, đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả và hội nhập là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo động lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng thành các chương trình, kế hoạch và chính sách phù hợp với đặc điểm của từng địa phương và từng khu công nghiệp. Đồng thời, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người lao động về vai trò của quản lý nhà nước đối với lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lao động.

Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định liên quan đến tuyển dụng, sử dụng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và phát triển nguồn nhân lực theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn phát triển của các khu công nghiệp. Đồng thời, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý lao động; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động tiếp cận, thực hiện các chính sách của Nhà nước.

Ba là, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhà nước cần tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu thị trường lao động; chú trọng đào tạo kỹ năng nghề, kỹ năng số, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp cho người lao động. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý lao động và tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động.

Cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu lao động thống nhất, đồng bộ và có khả năng kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, dự báo và hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý lao động, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm như hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội và an toàn, vệ sinh lao động; kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Năm là, bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường phối hợp giữa các chủ thể trong quản lý lao động tại các khu công nghiệp.

Cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách về nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, y tế, giáo dục và các thiết chế văn hóa phục vụ người lao động; từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân trong các khu công nghiệp. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn trong quản lý lao động, dự báo nhu cầu nhân lực và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Việc phát huy vai trò của tổ chức công đoàn, thúc đẩy đối thoại xã hội và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay./.

--------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG-ST, H.2026.

2. Quốc hội, Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb CTQG-ST, H.2019.

3. Quốc hội (2024), Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Nxb CTQG-ST, H.2024.

4. Nguyễn Thị Ngọc Xuân, Khuyến nghị một số giải pháp xây dựng và phát triển lực lượng lao động trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, ngày 10/6/2025.

5. Phùng Quốc Hiển, Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20/3/2025.

ThS Nguyễn Hữu Trung - Học viện An ninh nhân dân
Source: https://tcnnld.vn/news/detail/72168/Nang-cao-hieu-qua-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-lao-dong-tai-cac-khu-cong-nghiep-o-Viet-Nam-hien-nay.html