Hoạt động ngành, lĩnh vực

Việt Nam: Hành trình đổi mới tự thân và đột phá quản trị trong kỷ nguyên số

28/05/2026 09:02

Tóm tắt: Trong suốt 40 năm qua, hành trình Đổi mới của Việt Nam thường bị một số quan điểm xuyên tạc, phiến diện coi là sự “sao chép” các mô hình phát triển có sẵn. Tuy nhiên, thành công của Việt Nam là kết quả của một quá trình “sáng tạo trên nền tảng thực tiễn” đã được chứng minh. Đặc biệt, trong các giai đoạn cải cách nền hành chính quốc gia, nơi những tinh hoa quản trị quốc tế được “Việt Nam hóa” để giải quyết các bài toán đặc thù của một quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Cải cách hành chính; năng lực cạnh tranh quốc gia; thể chế; quản trị nhà nước; Việt Nam.

Abstract: Over the past 40 years, Vietnam’s renewal process has often been distorted and simplistically portrayed by some viewpoints as merely a “copy” of existing development models. However, Vietnam’s achievements are the result of a process of “innovation grounded in practical realities,” which has been clearly demonstrated in practice. This is especially evident in the stages of reforming the national administrative system, where international governance values have been “Vietnamized” to address the specific challenges of a developing country following a socialist-oriented path.

Keywords: Administrative reform; national competitiveness; institutions; state governance; Vietnam.


 

1. Đặt vấn đề

Cải cách nền hành chính quốc gia là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Bài viết phân tích quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính, tập trung vào các nội dung: hoàn thiện thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyển đổi số và cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó góp phần tạo “thế và lực” cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam. Thực tiễn kết quả cho thấy, cải cách hành chính không chỉ là công cụ quản lý mà còn là động lực chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn khẳng định sự khác biệt trong bản sắc cải cách hành chính ở Việt Nam

Chủ trương, quan điểm của Đảng về xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, liêm chính và phục vụ Nhân dân là một quá trình tìm tòi, đổi mới tư duy, sáng tạo không ngừng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Qua các kỳ đại hội, cải cách hành chính nhà nước luôn được khẳng định là một chủ trương nhất quán, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong lãnh đạo tổ chức và hoạt động của nhà nước.

Trong từng giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm đổi mới nền hành chính phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Nhiều nghị quyết chuyên đề có ý nghĩa nền tảng đã được ban hành, như: Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh quốc gia trở thành yếu tố quyết định vị thế của mỗi nền kinh tế. Đảng, Nhà nước tiếp tục có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Một trong những nhân tố cốt lõi cấu thành năng lực này là chất lượng quản trị nhà nước, đặc biệt là hiệu quả của nền hành chính công. Đại hội XIII của Đảng xác định xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp, thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy quản trị từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.

Quá trình đổi mới, cải cách thể chế được Đảng xác định là một trong ba đột phá chiến lược lãnh đạo và tổ chức thực hiện, trong đó, cải cách hành chính giữ vai trò trung tâm, Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo; hành chính phải phục vụ phát triển. Đây là nền tảng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: xóa bỏ cơ chế “xin - cho”; bảo đảm quyền tự do kinh doanh; minh bạch hóa chính sách. Theo đó, Chính phủ tăng cường cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa quy trình quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ, tăng tính dự báo của môi trường kinh doanh.

Cùng với đó, Việt Nam đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có năng lực, đạo đức công vụ và tinh thần phục vụ Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực nhằm củng cố niềm tin xã hội và nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi chính sách công.

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính được gắn chặt với xây dựng Chính phủ số, phát triển dữ liệu quốc gia và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong hiện đại hóa nền hành chính, góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước.

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như EVFTA và CPTPP, cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa thể chế và nâng cao năng lực thực thi của bộ máy hành chính. Trong bối cảnh đó, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu nội tại của phát triển mà còn trở thành điều kiện quan trọng để hội nhập thành công, nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai theo mô hình chuyển đổi tuần tự, kết hợp giữa ổn định chính trị và tự do hóa kinh tế trong suốt quá trình đổi mới. Đây được xem là một nét đặc thù trong mô hình phát triển của Việt Nam và được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Ngân hàng Thế giới (2022) đã coi Việt Nam là một “hình mẫu về sự trỗi dậy” trong phát triển và hội nhập.

Không chỉ tiếp nhận công nghệ, Việt Nam từng bước khẳng định năng lực đổi mới sáng tạo với định hướng “Make in Vietnam”. Năm 2023, Việt Nam xếp thứ 46/132 quốc gia về Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (GII), duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (WIPO, 2023)1. Điều này minh chứng cho năng lực học hỏi kết hợp sáng tạo tự thân mạnh mẽ; đồng thời cũng đập tan luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù định luôn cho rằng, Việt Nam thiếu tính sáng tạo nội sinh.

Thực tiễn cải cách hành chính thời gian qua cho thấy nhiều chuyển biến tích cực trong chất lượng quản trị quốc gia. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, chỉ số PAR INDEX đã cho thấy sự tăng trưởng bền vững về chất lượng quản trị. Điểm trung bình PAR INDEX của các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương liên tục duy trì ở mức trên 80%. Đặc biệt, năm 2023, chỉ số này đạt mức cao kỷ lục trong thập kỷ qua, cho thấy nỗ lực tự thân của hệ thống chính trị. Những “đầu tàu” như Quảng Ninh, Hải Phòng đã duy trì vị trí dẫn đầu với số điểm tiệm cận 90%. Sự sáng tạo ở đây chính là mô hình “Trung tâm Phục vụ hành chính công” - một thực thể chưa có tiền lệ trong các mô hình quản trị truyền thống trên thế giới, trong đó thực hiện tất cả quy trình dịch vụ công về một đầu mối duy nhất.

Năm 2024, 6/6 vùng kinh tế - xã hội đều có giá trị trung bình. Chỉ số cải cách hành chính đạt trên 80% và đều tăng trưởng cao hơn so với năm 2023. Giá trị trung bình cao nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng với kết quả đạt 90,17%, cao hơn 1,85% so với năm 2023 (88,32%); tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ, đạt 89,44%, cao hơn 1,99% so với năm 2023 (87,45%). Đây cũng là vùng kinh tế có giá trị trung bình Chỉ số cải cách hành chính tăng trưởng cao nhất so với các vùng kinh tế còn lại. Vị trí thứ 3 là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, đạt 88,51%, cao hơn 1,58% so với năm 2023 (87,72%). Vị trí thứ 4 là vùng Trung du miền núi phía Bắc, đạt 88,20%, cao hơn 0,48% so với năm 2023 (87,72%). Vị trí thứ 5 và 6 lần lượt là Đồng bằng sông Cửu Long, đạt 87,37%, và Tây Nguyên, đạt 85,63%.

Đặc biệt, năm 2025 đánh dấu cột mốc quan trọng mang tính lịch sử về cải cách nền hành chính ở Việt Nam, trọng tâm là công cuộc sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp, vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và đột phá mạnh mẽ về cải cách thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Những cải cách mạnh mẽ và toàn diện thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả ấn tượng và phản ánh chân thực vào kết quả Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, các tỉnh trên từng lĩnh vực, tạo tiền đề thúc đẩy quá trình đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả quản trị, từng bước nâng cao sự hài lòng và đáp ứng sự mong đợi của nhân dân. Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính đã có nhiều đổi mới, sáng tạo, linh hoạt để kịp thời ứng phó với những diễn biến phức tạp, khó lường phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện cải cách hành chính. Hàng loạt điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, cơ chế, chính sách đã được quan tâm tháo gỡ thông qua những quyết sách đột phá từ Trung ương. Rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính đã dần đi vào chiều sâu, thực chất hơn và chú trọng đơn giản hóa dựa trên dữ liệu, chứ không đơn thuần là cắt giảm hồ sơ, thời gian một cách cơ học. Chuyển đổi số tiếp tục là điểm sáng của cải cách, dần thấm sâu vào các hoạt động hàng ngày và sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, đóng góp quan trọng vào nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.

3. Nền hành chính quốc gia trong Kỷ nguyên mới

Đất nước đang đứng trước yêu cầu phát triển mới cần có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực mới. Theo đó, cần đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang là yếu tố quyết định sự phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để đất nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã xác định “Cải cách thủ tục hành chính triệt để, bảo đảm hoạt động hiệu quả, hiệu lực, hiệu quả”, “tiếp tục đổi mới, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, giảm mạnh các thủ tục hành chính trong hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương”. Các chủ trương, quan điểm của Đảng đã tạo nền tảng tư tưởng chính trị, định hướng cho việc xây dựng nền hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần thực hiện các đột phá trong một hệ thống nhiệm vụ và giải pháp mang tính tích hợp, liên ngành và dài hạn. Cần tư duy chiến lược tổng thể, tạo “đột phá” kép về thể chế và đột phá về công nghệ để giải phóng nguồn lực, nâng cao năng suất lao động. Đây là động cơ thúc đẩy kép quyết định sự phát triển của quốc gia.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển hiện đại, kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện đại. Triệt tiêu cơ chế: xin - cho”, thiết lập hệ thống pháp luật ổn định, có tính dự báo cao. Phân cấp mạnh đi đôi với kiểm soát quyền lực nhằm giảm chi phí thể chế, tăng niềm tin xã hội.

Thứ hai, phát triển công nghiệp hiện đại và nâng cấp chuỗi giá trị. Chuyển từ gia công thô sang đổi mới, sáng tạo và làm chủ công nghệ, hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn. Ưu tiên các lĩnh vực: công nghiệp bán dẫn, công nghệ số, năng lượng tái tạo. Xây dựng hệ sinh thái “Make in Vietnam”; thực hiện liên kết FDI - doanh nghiệp nội địa nhằm gia tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đó, nâng cấp toàn diện hệ thống giáo dục; đào tạo nhân lực số và kỹ năng tương lai. Cần tổ chức cải cách giáo dục đại học theo chuẩn quốc tế, gắn đào tạo với thị trường lao động, thu hút nhân tài toàn cầu. Chuyển từ “lao động giá rẻ” sang “lao động tri thức”.

Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Cần thúc đẩy nhanh việc xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, liên quan đến Chương trình chuyển đổi số quốc gia Việt Nam. Theo đó, cần hình thành và phát triển hệ sinh thái startup. Đầu tư nghiên cứu và phát triển nhằm tạo ra tri thức, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ mới hoặc cải tiến những dịch vụ, sản phẩm hiện có. Xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm tăng năng suất tổng hợp (TFP), nâng cao chỉ số GII.

Thứ năm, phát triển hạ tầng chiến lược đồng bộ. Xây dựng hạ tầng hiện đại, liên kết vùng theo hướng tiếp tục đầu tư hạ tầng giao thông (cao tốc, logistics), hạ tầng số, hạ tầng năng lượng xanh nhằm giảm chi phí logistics, tăng năng lực cạnh tranh.

Thứ sáu, phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Đưa khu vực tư nhân trở thành động lực quan trọng. Theo đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển tập đoàn tư nhân lớn; cải thiện các thủ tục tiếp cận vốn để doanh nghiệp Việt dẫn dắt chuỗi giá trị.

Thứ bảy, xây dựng nền hành chính hiện đại, kiến tạo thông qua phát triển Chính phủ số, dữ liệu mở và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí cho doanh nghiệp và người dân. Nền hành chính cần chuyển từ “cải cách” sang “cách tân”, ứng dụng AI và dữ liệu số trong quản trị, đồng thời xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Thứ tám, phát triển bền vững và kinh tế xanh đáp ứng cam kết của Việt Nam đưa phát thải ròng bằng 0. Theo đó, cần chuyển đổi năng lượng; phát triển kinh tế tuần hoàn; thu hút đầu tư xanh để tăng trưởng bền vững dài hạn.

Để đạt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Đồng thời, cần phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách của Nhà nước và huy động sự tham gia của toàn xã hội nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia.

***

Việt Nam đang từng bước xây dựng mô hình phát triển phù hợp với điều kiện và định hướng của mình trên cơ sở phát huy trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng phát triển đất nước. Định hướng mục tiêu của Việt Nam là một trung tâm đổi mới sáng tạo năng động của khu vực và thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đóng vai trò trung tâm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Thông qua cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng công chức và chuyển đổi số, Việt Nam đã tạo dựng được cả “thế” và “lực” trong phát triển kinh tế, xây dựng nền hành chính kiến tạo để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia phát triển./.

-------------------------------------

Ghi chú:

1. World Intellectual Property Organization (WIPO) (2023). Global Innovation Index 2023: Innovation in the face of uncertainty. https://doi.org/10.34667/tind.48220.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Chính phủ (2021). Báo cáo tổng kết cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020.

3. UNDP Vietnam (2023). The Provincial Public Administration and Governance Performance Index (PAPI) 2023: Measuring Justice, Corruption, and Service Delivery. UNDP.

4. United Nations. (2022). E-Government Survey 2022.

5. Ministry of Planning and Investment (MPI). (2023). Foreign Direct Investment Report.

6. Ministry of Home Affairs (MOHA) (2024). Summary report on Public Administration Reform Index (PAR INDEX) 2023. Government of Vietnam Publishing House.

7. Schwab, K. (2019). The Global Competitiveness Report 2019. World Economic Forum.

8. Transparency International. (2022). Corruption Perceptions Index 2022.

9. VCCI. (2022). Provincial Competitiveness Index Report.

10. World Bank. (2020). Worldwide Governance Indicators.

11. World Bank (2022). Vietnam: Digital Government Implementation and Future Roadmap. World Bank Group.

12. Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) năm 2024 của các tỉnh, thành phố. https://moha.gov.vn/tin-tuc/-oid57037.

Nguyễn Thị Thuý Vân - Học viện Hành chính và Quản trị công
Source: https://tcnnld.vn/news/detail/72063/Viet-Nam-Hanh-trinh-doi-moi-tu-than-va-dot-pha-quan-tri-trong-ky-nguyen-so.html