Hỏi đáp kỳ 15

15/10/2021 16:00 Số lượt xem: 376

Từ câu 121 đến 130

Câu 121. Thế nào là địa điểm hợp pháp?

Theo quy định tại khoản 15 Điều 2 của Luật thì địa điểm hợp pháp là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Khi thực hiện các nội dung này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan (đất đai, xây dựng, nhà ở, ...) để xác định tính hợp pháp của đất, nhà ở và công trình mà tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp.

Theo quy định của Luật hiện nay, các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung có thể thuê, mượn địa điểm hợp pháp để làm trụ sở, nơi sinh hoạt tôn giáo,.... Mặt khác, theo Luật Nhà ở năm 2014 thì việc cho thuê, cho mượn nhà ở riêng lẻ để sinh hoạt tôn giáo, làm trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc không thuộc hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 6 của Luật này (trừ nhà chung cư không được sử dụng vào mục đích không phải để ở).

Câu 122. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng được pháp luật quy định như thế nào?

Điều 22 Nghị định số 162 quy định Bộ Nội vụ là cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về tôn giáo; các hoạt động tín ngưỡng và các cơ sở tín ngưỡng không phải là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương.

Tuy nhiên, ở cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào giao trách nhiệm quản lý nhà nước về tín ngưỡng cho cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp. Hiện, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo các nghị định sửa đổi Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Theo đó, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng sẽ được giao cho Sở Nội vụ và Phòng Nội vụ. Trên cơ sở các nghị định này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ sửa đổi và thay thế và bổ sung nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng cho Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ vào Thông tư số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Trong khi chờ các văn bản nêu trên được sửa đổi, ban hành, ngày 06/12/2019, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quy chế phối hợp giữa hai bộ trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng để làm cơ sở cho các tỉnh, thành thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng.

Câu 123. Cá nhân đứng đơn xin đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại nơi chưa được công nhận là cơ sở tín ngưỡng (tại gia) có được xem xét, giải quyết không? Nếu được thì cơ sở pháp lý nào quy định, thẩm quyền giải quyết thuộc về cơ quan nào?

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Việc cá nhân thực hiện hoạt động tín ngưỡng tại nơi chưa được công nhận là cơ sở tín ngưỡng (tại gia) để phục vụ cho nhu cầu cá nhân thì pháp luật không cấm và không phải đăng ký. Tuy nhiên, nếu cá nhân đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại nơi chưa được công nhận là cơ sở tín ngưỡng để phục vụ cho việc sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng, của nhiều người thì pháp luật chưa cho phép.

Câu 124. Đề nghị cho biết loại hình tín ngưỡng “thờ mẫu, hầu đồng” có được phép hoạt động không? Nếu được thì có được sinh hoạt tại nhà riêng hay chỉ sinh hoạt tại cơ sở tín ngưỡng?

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng phổ biến trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, không chỉ có ở dân tộc Kinh mà còn có ở các dân tộc thiểu số. Hầu đồng (hầu bóng) là một nghi lễ quan trọng của tín ngưỡng thờ Mẫu. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu nhằm tôn vinh giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, là nhu cầu chính đáng của nhân dân và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ.

Năm 2016, “thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Do vậy, việc bảo tồn “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được thực hiện theo quy định của Luật Di sản văn hóa và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Hiện nay, việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu diễn ra ở cơ sở tín ngưỡng (đình, đền, phủ,…), ở một số chùa Phật giáo và ở các điện thờ tư gia. Việc thực hành tín ngưỡng nói chung, tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng tại tư gia là việc làm mang tính cá nhân trong gia đình. Việc tập trung đông người tại tư gia để thực hành nghi lễ hầu đồng là hoạt động không được phép. Điện thờ tư gia không được coi là cơ sở tín ngưỡng.

Câu 125. Tổ chức tôn giáo có thể ủy quyền cho tổ chức tôn giáo trực thuộc do mình trực tiếp quản lý khi thực hiện khoản 1 Điều 16 của Luật hay không? Nếu được thì cần thực hiện như thế nào?

Khoản 1 Điều 16 của Luật quy định tổ chức tôn giáo đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc.

Theo quy định này, Trung ương Giáo hội của các tổ chức tôn giáo là tổ chức đại diện cho tổ chức mình trong các quan hệ với các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật trong đó có cả việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật. Trong trường hợp Trung ương Giáo hội của các tổ chức tôn giáo không thực hiện được quyền này thì có thể ủy quyền cho tổ chức tôn giáo trực thuộc của mình theo quy định của Bộ Luật Dân sự với điều kiện tổ chức tôn giáo trực thuộc phải là pháp nhân (theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự). Ví dụ Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam có thể ủy quyền cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 nhưng với điều kiện Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh phải là pháp nhân phi thương mại.

Việc đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật và Điều 9 Nghị định số 162.

Câu 126. Thời gian qua, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ủy quyền cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh thực hiện việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Nhưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh chưa thực hiện được việc đăng ký pháp nhân phi thương mại. Hướng giải quyết vấn đề này như thế nào?

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Trong trường hợp Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh chưa đăng ký được pháp nhân phi thương mại thì Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam có thể ủy quyền cho cá nhân là Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh thực hiện (Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh là thành viên của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam). Việc ủy quyền này được thực hiện bằng văn bản, có thời hạn. Trường hợp hiến chương của các tổ chức tôn giáo có quy định về nội dung này thì việc quy định này được xem như là văn bản ủy quyền.

Câu 127. Thành viên ban hộ tự, ban quản trị, ban trụ trì chùa có được xem là chức việc không?

Theo cách giải thích của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì ban hộ tự, ban quản trị chùa của đạo Phật là tổ chức tôn giáo cơ sở. Và theo Điều 67 của Luật nếu các tổ chức này được thành lập trước ngày Luật có hiệu lực đến nay còn tồn tại và hoạt động thì được thừa nhận là tổ chức tôn giáo trực thuộc (nếu hiện nay mới thành lập thì không được xem như là tổ chức tôn giáo trực thuộc).

Bên cạnh đó, khoản 9 Điều 2 của Luật giải thích chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức đươc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử, suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức. Như vậy, những người giữ chức vụ trongban hộ tự, ban quản trị, ban trụ trì(đã có từ trước khi Luật có hiệu lực) được xác định là chức việc.

Câu 128. Chùa có phải là tổ chức tôn giáo trực thuộc không? Việc thành lập chùa được thực hiện như thế nào?

- Khoản 13, Điều 2 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích:Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo.

Điều 11, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tu chỉnh lần thứ VI tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, quy định: Hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được quy định: Cấp Trung ương gồm có Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; cấp tỉnh, thành phố Ban Chứng minh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cóBan Chứng minh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.Và “Đơn vị cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là chùa, tổ đình, tịnh xá, thiền viện, tu viện, tịnh thất, niệm Phật đường (gọi chung là tự viện), dưới sự quản lý của các cấp Giáo hội (Điều 57).

Như vậy, chùa của Phật giáo không phải là một cấp trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên không được coi là tổ chức tôn giáo trực thuộc theo như quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

- Luật tín ngưỡng, tôn giáo không quy định việc thành lập chùa mà chỉ quy định điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận tổ chức tôn giáo (Điều 21, Điều 22) và điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc (Điều 28, Điều 29). Khi tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc muốn xây dựng mới cơ sở tôn giáo (xây dựng chùa) cần tuân thủ các quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Đất đai năm 2013 và Luật Xây dựng.

Câu 129. Phiếu lý lịch tư pháp là gì? Phiếu lý lịch tư pháp được cấp để thực hiện các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là mẫu nào?

Theo Luật lý lịch tư pháp năm 2009 thì Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.

Phiếu lý lịch tư pháp hiện có 02 mẫu phiếu. Đối với Phiếu lý lịch tư pháp được cấp để thực hiện các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là mẫu Phiếu số 01 (công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho mình; cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã).

Câu 130. Thời gian để được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là bao lâu theo Luật Lý lịch tư pháp năm 2009?

Theo Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài quy định tại khoản 2, 3 Điều 47 của Luật, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 20 ngày. Trường hợp khẩn cấp quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này thì thời hạn được cấp không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu.

BTG trích đăng

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 19239
Đã truy cập : 48170929