Chính phủ mới ban hành Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, trong đó làm rõ đối tượng đang đóng bảo hiểm thất nghiệp, mức đóng, cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và cách xác định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được duy trì ở tỷ lệ 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Về phía người sử dụng lao động, Nghị định quy định rõ nguồn kinh phí đóng bảo hiểm thất nghiệp tùy theo tính chất đơn vị. Đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm. Trường hợp đơn vị được ngân sách bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước bảo đảm phần đóng cho số người hưởng lương từ ngân sách, phần còn lại do đơn vị tự bảo đảm. Đối với doanh nghiệp và các đơn vị có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc. Theo đó, người lao động được coi là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp nếu đã đóng của tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận. Trường hợp người lao động nghỉ việc do ốm đau, thai sản, nghỉ không hưởng lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, nếu được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận, vẫn được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Một nội dung đáng chú ý khác là cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đối với Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Theo Nghị định, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Việc hỗ trợ được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm duy trì số dư Quỹ hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và chi tổ chức, hoạt động bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề, nhưng mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ tiền lương tháng.
Hằng năm, vào quý IV, Bảo hiểm xã hội Việt Nam căn cứ dự toán thu, chi được giao để xác định mức kinh phí hỗ trợ và gửi Bộ Tài chính thực hiện chuyển một lần vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Trên cơ sở quyết toán năm trước, Bộ Tài chính thực hiện thẩm định, xác định chính xác mức hỗ trợ; trường hợp cấp thừa phải nộp trả ngân sách, trường hợp cấp thiếu sẽ được xem xét bổ sung vào năm sau.
Nghị định cũng bổ sung chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật. Theo đó, người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0% đối với phần trách nhiệm của người sử dụng lao động trong thời gian người lao động làm việc, nhưng không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới. Để được hưởng chính sách này, người sử dụng lao động phải đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội và kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.
Về mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, Nghị định quy định mức hưởng hằng tháng bằng 60% mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp. Trường hợp có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp, 6 tháng để tính bình quân là 6 tháng có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chấm dứt làm việc theo quy định.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm người lao động chấm dứt hợp đồng lao động. Tháng hưởng trợ cấp được tính theo tháng dương lịch, thời điểm kết thúc mỗi tháng hưởng trợ cấp được xác định cụ thể theo ngày bắt đầu hưởng.
Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng.
Với những quy định cụ thể, đồng bộ, Nghị định số 374/2025/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm thất nghiệp, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, đồng thời tăng cường tính bền vững của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn tới./.